
Nội dung có ở:
Việc khôi phục hoạt động vận tải biển qua eo biển Hormuz được dự báo sẽ làm giảm chi phí nhiên liệu, cước vận chuyển và logistics.
Dù vậy, các doanh nghiệp chăn nuôi gia cầm sẽ cần thêm thời gian để thực sự hấp thụ và chuyển hóa những lợi thế này thành lợi nhuận.
Giá dầu thô toàn cầu đã lao dốc mạnh sau khi các tàu thương mại quay trở lại eo biển Hormuz nhờ thỏa thuận hòa bình lâm thời giữa Mỹ và Iran.
Việc tái mở cửa một trong những hành lang hàng hải chiến lược nhất thế giới đã đập tan lo ngại về đứt gãy nguồn cung, đồng thời khôi phục niềm tin cho thị trường năng lượng toàn cầu.
Giá dầu Brent hiện giao dịch quanh mức 72–74 USD/thùng, mức thấp nhất trong gần 4 tháng qua và giảm khoảng 30-40% so với đỉnh điểm trong giai đoạn xung đột vừa qua.
Sự điều chỉnh này phản ánh kỳ vọng nguồn cung dầu sẽ dồi dào hơn khi xuất khẩu từ vùng Vịnh phục hồi và mật độ tàu chở dầu tăng trưởng ổn định.
Đối với ngành gia cầm châu Á, việc giá dầu giảm không chỉ dừng lại ở một tin tức tích cực trên mặt báo.
Chi phí nhiên liệu hạ nhiệt sẽ tác động đến gần như mọi mắt xích trong chuỗi giá trị chăn nuôi – từ khâu nhập khẩu nguyên liệu thức ăn và chất phụ gia, cho đến vận hành các nhà máy thức ăn chăn nuôi (TĂCN), trại giống, nhà máy giết mổ, hệ thống kho lạnh và đội xe vận chuyển.
Mặc dù các công ty gia cầm chưa thể tối ưu chi phí ngay lập tức, bước ngoặt này vẫn mở ra một môi trường chi phí dễ thở hơn sau nhiều tháng dài đối mặt với bất ổn.

Khác với thị trường hàng hóa, chuỗi sản xuất gia cầm không thể phản ứng ngay lập tức trong một sớm một chiều.
Nhiều doanh nghiệp hiện vẫn phải tiêu thụ lượng tồn kho nhiên liệu, phụ gia TĂCN và nguyên liệu nhập khẩu vốn được thu mua từ trước với mức giá và cước vận chuyển đỉnh điểm.
Những khoản tiết kiệm rõ rệt đầu tiên dự kiến sẽ xuất hiện trong vòng 1-2 tháng tới, khi các lô hàng axit amin, vitamin, enzyme, khoáng chất và các yếu tố đầu vào nhập khẩu khác cập cảng với chi phí vận chuyển rẻ hơn.
Trong 2-3 tháng tiếp theo, áp lực chi phí nhiên liệu và vận chuyển giảm bớt sẽ bắt đầu lan tỏa tới các nhà máy TĂCN, trại giống, trang trại chăn nuôi, cơ sở chế biến và các đơn vị vận hành chuỗi cung ứng lạnh.
Cước vận tải biển được dự báo sẽ hạ nhiệt khi giá dầu chạy tàu (bunker fuel) giảm và lịch trình tàu chạy dần ổn định trở lại.
Điều này sẽ kéo giảm giá cập cảng (landed cost) của các nguyên liệu dinh dưỡng nhập khẩu – vốn là nhóm mặt hàng được sử dụng rất phổ biến tại châu Á.
Đồng thời, giá dầu diesel thấp hơn có thể làm giảm chi phí vận chuyển TĂCN, gà con một ngày tuổi (DOC), trứng thương phẩm, gia cầm sống và các sản phẩm gia cầm chế biến.
Các cơ sở tiêu thụ nhiều năng lượng cũng đứng trước cơ hội lớn nếu giá dầu thô giảm kích hoạt đợt giảm giá nhiên liệu và điện trong nước.
Thậm chí, chỉ cần những khoản cắt giảm khiêm tốn ở các hạng mục này cũng đủ để cải thiện biên lợi nhuận vận hành cho các doanh nghiệp chăn nuôi gia cầm theo mô hình chuỗi khép kín (3F).
Tầm quan trọng của eo biển Hormuz không chỉ gói gọn ở mặt hàng dầu mỏ.
Tuyến đường thủy này là mạch máu thương mại sống còn kết nối thị trường châu Á với các nhà cung cấp tại Trung Đông và các khu vực lân cận.
Khi các hoạt động tàu bè trở lại quỹ đạo bình thường, tình trạng chậm trễ trong vận chuyển nguyên liệu TĂCN và nông sản hàng hóa được kỳ vọng sẽ giảm mạnh, từ đó nâng cao tính ổn định của chuỗi cung ứng cũng như hiệu quả hoạch định hàng tồn kho.
Làn sóng hạ nhiệt chi phí này được dự báo sẽ xuất hiện trên khắp châu Á.
Trung Quốc có thể hưởng lợi từ việc giảm chi phí năng lượng và nhập khẩu, trong khi Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ vơi bớt áp lực nhờ giảm bớt gánh nặng phụ thuộc vào ngũ cốc và nhiên liệu nhập khẩu.
Ngành chăn nuôi gia cầm tại Thái Lan, Indonesia, Việt Nam, Malaysia, Philippines và Ấn Độ cũng được hưởng lợi từ việc giảm chi phí vận chuyển và logistics, mặc dù tốc độ thẩm thấu chi phí sẽ có sự chênh lệch tùy thuộc vào chính sách giá nhiên liệu nội địa và tỷ giá hối đoái của từng quốc gia.
Bất chấp những tín hiệu lạc quan, chỉ riêng giá dầu giảm sẽ không thể xoay chuyển hoàn toàn cục diện kinh tế của ngành gia cầm.
Thức ăn chăn nuôi vẫn là khoản chi phí lớn nhất của ngành, chiếm khoảng 65-70% chi phí sản xuất.
Do đó, nguồn cung và giá cả của ngô và bã đậu nành sẽ tiếp tục là yếu tố quyết định lớn nhất đến biên lợi nhuận của doanh nghiệp, bên cạnh các điều kiện thời tiết, áp lực dịch bệnh trên đàn vật nuôi và nhu cầu của người tiêu dùng.
Nếu giá dầu thô tiếp tục duy trì quanh mức hiện tại và sự ổn định tại vùng Vịnh được giữ vững, ngành gia cầm châu Á có thể bắt đầu ghi nhận những chuyển biến rõ rệt về mặt chi phí trong khoảng thời gian từ cuối tháng 7 đến tháng 9 năm 2026.
Lợi ích tổng thể sẽ lộ diện ngày một rõ nét hơn khi làn sóng giảm chi phí nhiên liệu, vận chuyển và logistics dần ngấm sâu vào mọi ngóc ngách của chuỗi cung ứng.
Sau vài năm liên tiếp lao đao vì chi phí đầu vào biến động thất thường và thương mại bị gián đoạn, việc tái mở cửa eo biển Hormuz không chỉ là một cột mốc chính trị đơn thuần.
Đối với các nhà chăn nuôi gia cầm trên khắp châu Á, sự kiện này mang lại triển vọng về một môi trường vận hành ổn định hơn, đồng thời củng cố mạnh mẽ niềm tin vào chuỗi cung ứng khu vực.
TÁC GIẢ

Sản xuất gia cầm không sử dụng kháng sinh kích thích tăng trưởng trong thức ăn

Tình hình cung cầu ngô và khô đậu nành trong ngành chăn nuôi gia cầm Ấn Độ

Tuổi thọ gà đẻ bắt đầu từ giai đoạn hậu bị
H&N Technical Team
PHỎNG VẤN GREG TYLER

Những góc nhìn từ Báo cáo Khung US-RSPE lần đầu tiên

Chiến lược kiểm soát hiệu quả bệnh Viêm phế quản truyền nhiễm

Vi khuẩn E.coli gây bệnh ở gia cầm (APEC): Các kiểu huyết thanh và độc lực

Nâng cao hiệu suất trại giống với Dịch vụ Hỗ trợ Ấp trứng Dựa trên Dữ liệu Mới của Petersime

Kiểm soát chuột là yếu tố then chốt trong an toàn sinh học và phát triển bền vững ngành gia cầm
Edgar O. Oviedo-Rondón
Axit Hypochlorous: Kỷ nguyên mới trong công nghệ lọc nước!
José Luis Valls García
Phỏng vấn với Fahad Alfayez

Các biến thể của virus viêm túi Fabricius truyền nhiễm: Thách thức đối với vắc xin thương mại?

Bệnh Newcastle: Hiểu rõ virus để đưa ra quyết định kiểm soát tốt nhất. Phần I
Eliana Icochea D’Arrigo
Giải pháp tiềm năng cho Hội chứng gan nhiễm mỡ xuất huyết ở gà mái đẻ
Edgar O. Oviedo-Rondón
Các yếu tố và chiến lược giúp cải thiện sự thoải mái nhiệt cho gia cầm

Quản lý trứng đẻ dưới sàn trong đàn gà giống thịt
Cobb-Vantress International
Chất Lượng Gà Con – Phần II
H&N Technical Team
Lợi Ích Từ Chăn Nuôi Mô Hình Tổ Cộng Đàn Van Gent Phần 2 – Quản Lý
Winfridus Bakker
Vệ sinh, khử trùng trong nhà nuôi hở và chăn nuôi gà thịt khi mùa mưa đến
Mabel Sibonginkosi Ndebele
Chính Sách Về Vi Khuẩn Salmonella Cho Ngành Chăn Nuôi Gia Cầm Hoa Kỳ Trong Năm 2024
Bill Potter
Độc tố nấm: Vấn đề lớn trong chăn nuôi gia cầm
Diogo Ito
Giai đoạn nuôi dưỡng: “Khởi đầu hoàn hảo” cho sản lượng trứng đàn giống tối ưu
Kali Simioni
Thiết Kế Chương Trình An Toàn Sinh Học Để Bảo Vệ Trang Trại Khỏi Nguy Cơ Dịch Cúm Gia Cầm
Dr. Algis Martínez - DVM -ACPV Diplomate
Tại sao nên phân biệt Bã đậu nành theo xuất xứ khi lập và tối ưu hóa công thức cám gia cầm?
Edgar O. Oviedo-Rondón
Lượng Độc Tố Vi Nấm Trong Bã Đậu Nành
Edgar O. Oviedo-Rondón
Chương Trình Cho Ăn Signal Light cho Đàn Gia Cầm Giống
Chance Bryant
Tham Số Chất Lượng của Đậu Nành và Nguyên Liệu Thức Ăn Thay Thế trong Dinh Dưỡng Gia Cầm
Güner GÖVENÇ
Ảnh Hưởng của Stress Mạn Tính và Viêm Ruột trên Sức Khỏe và Năng Suất Đàn Gia Cầm Thương Phẩm: Phần I
Guillermo Tellez-Isaias
Ứng Dụng Chất Saponin Trong Chăn Nuôi Gia Cầm
Ken Bafundo
Kiểm Soát Sâu Trùng Trong Chăn Nuôi Gia Cầm
Gracieli Araujo
Dịch tễ học và tính mùa của vi-rút Metapneumovirus
Edgar O. Oviedo-Rondón
Phỏng vấn chủ tịch PSA Brian Fairchild
Brian Fairchild
Đậu Nành Giàu A-xít Oleic với Ảnh Hưởng trên Trứng và Thịt Gia Cầm
Edgar O. Oviedo-Rondón
Kích thước trứng
H&N Technical Team
Chủng ngừa trong trứng (in ovo) bằng công nghệ Embrex®hỗ trợ đàn gà con có phản ứng miễn dịch sớm hơn và mạnh hơn
Zoetis Technical Team
Lợi ích thực tiễn của máy đo góc thịt – Flesher cho chăn nuôi gà giống hướng thịt
Sandro Cerrate
Nguyên tắc an toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm với sự chú trọng vào kiểm soát của hội chứng rối loạn đường ruột – Một quan điểm mới
Masaio Mizuno Ishizuka
Nền tảng khoa học của tạo màu lòng đỏ trứng: thức ăn cho gia cầm ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng trứng
Ana C. B. Doi Ananda P. Felix Renata B. M. S. Souza Simone G. de Oliveira Suzete P. de M. Neta Vivian I. Vieira
Vấn đề viêm da lòng bàn chân (loét chân) ở gà thịt và các giải pháp dinh dưỡng khả thi
avinews vietnam
An toàn sinh học: Chúng ta hiểu gì về loại trừ sinh học và kiểm soát sinh học?
Kate Barger Weathers
Các bệnh gây vô sinh ở gà trống giống hướng thịt
Edgar O. Oviedo-Rondón H. John Barnes
Ước Tính Sự Biến Động trong Cám Hỗn Hợp
Edgar O. Oviedo-Rondón Gene Pesti Lynne Billard
Trứng sàn và ảnh hưởng đối với ấp nở gia cầm
Juan Carlos López. MVZ, MVSc, PhD
Tạo chỗ đậu cho gà giống hướng thịt
Edgar O. Oviedo-Rondón
Chăn nuôi gia cầm thời đại 4.0: sự hỗ trợ của công nghệ tiên tiến
AviNews Br team Rodrigo Galli
Phúc lợi động vật và trí thông minh nhân tạo: sự kết hợp cho ngành gia cầm của hôm nay hay ngày mai?
Elein Hernández
Cải Thiện Sức Khỏe Gia Cầm: Vai Trò của Phân Tích Dự Đoán trong Phòng Bệnh ở Vật Nuôi
Talha Siddique
Tiếp cận – Tiếp thị: lối thoát nào cho khủng hoảng thị trường trứng?
Dr.Vincent Guyonnet
Chủng ngừa trong trứng (in ovo) bằng công nghệ Embrex® hỗ trợ đàn gà con có phản ứng miễn dịch sớm hơn và mạnh hơn
Zoetis Technical Team
Bệnh Học Hệ Miễn Dịch Khi Chẩn Đoán Sự Ức Chế Miễn Dịch Ở Gia Cầm
Nestor Ledesma Martínez
Tuân thủ an toàn sinh học: cân bằng giữa văn hóa, tính cách, trải nghiệm, giáo dục và công nghệ
Edgar O. Oviedo-Rondón
Men vi sinh, prebiotics, chất phytogenics cho tối ưu hóa sức khỏe đường ruột gia cầm. Phần 2
Guillermo Tellez-Isaias Hafez M Hafez Juan D. Latorre Sakine Yalçın
Men vi sinh, prebiotics, chất phytogenics cho tối ưu hóa sức khỏe đường ruột gia cầm. Phần 1
Guillermo Tellez-Isaias Hafez M Hafez Juan D. Latorre Sakine Yalçın